Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử UBND Xã Trà Dơn

Chi tiết tin

Phát triển kinh tế - xã hội miền núi giai đoạn 2016-2021: kết quả đáng phấn khởi và những điều còn trăn trở

Những kết quả đáng phấn khởi…

Miền núi Quảng Nam gồm 9/18 đơn vị hành chính cấp huyện, tổng diện tích 783.191ha, chiếm 74,06% diện tích toàn tỉnh, có 2 huyện biên giới là Nam Giang, Tây Giang (14 xã biên giới, 157,42 km đường biên giới với Lào); dân số khoảng 302.530 người, chiếm 20,1% dân số toàn tỉnh. Đây là vùng đất giàu tiềm năng phát triển, có nguồn tài nguyên rừng, đất đai, khoáng sản, hệ sinh thái đa dạng, động thực vật phong phú, nhiều di tích lịch sử - văn hóa vật thể và phi vật thể. Tuy nhiên, vì yếu tố địa hình đồi dốc, địa lý, địa chất phức tạp, đây cũng là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như: lũ quét, sạt lở đất, đặc biệt là trong những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên xảy ra đã tác động rất lớn đến các mặt đời sống và sản xuất của người dân.


Trung tâm huyện Tây Giang, Quảng Nam

Giai đoạn 2016-2020, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU và HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, thể hiện quan điểm xuyên suốt của tỉnh là tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực để thúc đẩy các huyện miền núi phát triển toàn diện, nâng cao đời sống cho Nhân dân. Khu vực miền núi đã được đầu tư, hỗ trợ thông qua nhiều chương trình, chính sách, dự án của Trung ương, tỉnh như: các chính sách về sắp xếp ổn định dân cư, phát triển sản xuất khai thác các lĩnh vực tiềm năng theo 5 nhóm dự án phát triển vùng Tây và đã đạt được những kết quả nhất định; bộ mặt nông thôn miền núi, sản xuất và đời sống của người dân đã đổi thay đáng kể, nhiều mô hình sản xuất mới đã được tập trung triển khai thực hiện.

Trước hết, trên lĩnh vực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, nhiều dự án được ưu tiên đã phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. Trong giai đoạn này, ngoài nguồn vốn đầu tư xã hội, tỉnh đã tập trung huy động các nguồn lực đầu tư công cho khu vực miền núi với tổng nguồn vốn hơn 9.712 tỷ đồng, tăng 1,2 lần so giai đoạn 2011 - 2015, chiếm 37% so với toàn tỉnhNguồn vốn này, chủ yếu tập trung phát triển kết cấu hạ tầng, đáp ứng cơ bản hạ tầng thiết yếu cho người dân, tạo động lực phát triển khu vực; khuyến khích, thu hút các nguồn vốn đầu tư xã hội. Trong đó, xác định giao thông là chìa khoá và tạo điều kiện phát triển đồng bộ các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Hệ thống giao thông hình thành, tạo kết nối theo trục Đông Tây và trục Bắc Nam; hệ thống giao thông nông thôn được nâng cấp, mở rộng, kiên cố hóa thông suốt từ quốc lộ đến tỉnh lộ, từ trung tâm tỉnh lỵ đến tất cả các huyện và trung tâm xã; nhất là các tuyến đường Hồ Chí Minh, đường Trường Sơn Đông, các tuyến Quốc lộ 14G, 14D, ĐT.606, ĐT.614,… tổng chiều dài đi qua các huyện hơn 700 km. Cùng với đó, 75 tuyến đường ĐH với hơn 800 km và gần 2.100 km đường giao thông nông thôn; đây là các tuyến đường có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhìn chung, hệ thống kết cấu hạ tầng đã phát huy hiệu quả, tạo động lực thu hút đầu tư phát triển sản xuất của người dân và doanh nghiệp.

Với đặc điểm về tài nguyên rừng, khí hậu, nhân lực, cho đến nay kinh tế nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo đối với miền núi. Giai đoạn 2016-2021, lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp tục phát triển ổn định và duy trì mức tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 5,9%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của tỉnh (3,45%), từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, hình thành một số nhóm sản phẩm OCOP đặc trưng gắn với thị trường tiêu thụ. Hiện nay, 9 huyện miền núi đã có 92 sản phẩm OCOp được tỉnh công nhận đạt 03 đến 04 sao (14 sản phẩm 04 sao, 78 sản phẩm 03 sao), chiếm 44,66 % tổng số sản phẩm được công nhận của toàn tỉnh; một số sản phẩm đặc trưng thế mạnh, tiêu biểu (sử dụng nguyên liệu thế mạnh tại địa phương) như: tiêu, tinh dầu quế, tinh dầu sả, rượu Lòn bon Tiên Phước; trà Đảng sâm, cao Đảng sâm, cao Ba kích, trà Đảng sâm, Rượu Đảng sâm, Rượu Ba kích (Tây Giang); Chè dây Razéh, Ớt Ariêu muối, Rượu Kakun, chè Quyết Thắng (Đông Giang); Tinh dầu quế Trà My, rượu lúa rẫy Bắc Trà My (Bắc Trà My); ... Một số sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của miền núi được hỗ trợ đầu tư phát triển, nâng cao giá trị kinh tế góp phần tăng thu nhập đáng kể cho người dân như Sâm Ngọc Linh, Quế Trà My và các cây dược liệu khác (ba kích, đảng sâm,…).

Trên lĩnh vực lĩnh vực công nghiệp, hoạt động thủy điện cung cấp cho lưới điện quốc gia khoảng 3,4 tỷ kwh/năm, qua đó tạo nguồn thu cho ngân sách tỉnh khoảng 1.300 tỷ đồng/năm. Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đẩy mạnh thu hút đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, một số nhà máy chế biến nông lâm sản đã được hình thành, chủ yếu là chế biến gỗ và đã xuất hiện nhà đầu tư quan tâm đầu tư dự án chế biến nông sản nhưng tỷ trọng còn nhỏ. Đã có 77 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 11.451 tỉ đồng (chiếm khoảng 19% tổng vốn đầu tư tư nhân của toàn tỉnh). Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất với 44 dự án, vốn đăng ký 5.757 tỉ đồng (chiếm 50,4% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là lĩnh vực du lịch - dịch vụ với 08 dự án, vốn đăng ký 4.121 tỉ đồng (chiếm 36,1% ). Một số dự án đầu tư lớn như: Nhà máy sản xuất ván ghép thanh và viên nén năng lượng tại huyện Hiệp Đức với vốn đăng ký 535,7 tỷ đồng, dự án Khu du lịch sinh thái cổng trời Đông Giang với vốn đăng ký 2.600 tỷ đồng... Với nhiều hình thức kêu gọi xúc tiến đầu tư theo hướng tiếp cận nhu cầu của nhà đầu tư, với nỗ lực của các ngành và các địa phương miền núi đã từng bước thu hút được các nhà đầu tư với quy mô lớn, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và góp phần giảm nghèo, phát triển kinh tế.

Hoạt động thương mại dịch vụ đã có bước phát triển hơn so với giai đoạn trước, một số lĩnh vực đã được quan tâm đầu tư và triển khai. Một số cơ sở kinh doanh có quy mô, hoạt động mang tính chuyên nghiệp cũng đã được hình thành (Điện máy xanh, Thế giới di động,...); kinh doanh bán lẻ hàng hóa tiếp tục phát triển, cung cầu hàng hóa được bảo đảm nhất là hàng thiết yếu và tạo điều kiện cho nhân dân khu vực miền núi có dịp mua, bán các sản phẩm có chất lượng, góp phần bình ổn giá cả thị trường, phát triển thương mại.

Cùng với đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, để đảm bảo sự phát  triển bền vững, toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng được quan tâm. Giáo dục miền núi đã có những chuyển biến tích cực, nhiều chính sách ưu đãi cho học sinh, giáo viên của Trung ương, tỉnh được triển khai, số lượng học sinh qua các năm luôn duy trì ở mức cao; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được đầu tư, nâng cấp; công tác phổ cập giáo dục được quan tâm chỉ đạo; quy mô các cơ sở giáo dục đào tạo miền núi ngày càng được mở rộng, từng bước đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh. Năm học 2020 - 2021, trên địa bàn 9 huyện có 263 trường học các cấp từ Mầm non đến Trung học phổ thông (trong đó: 105 trường học đạt chuẩn quốc gia). Việc bố trí, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về cơ bản đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ; chất lượng, hiệu quả giáo dục khu vực này đã được nâng cao đáng kể. Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân luôn được quan tâm: mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp; cơ sở vật chất được tăng cường, trang thiết bị ngày càng được đầu tư theo hướng chuyên sâu. Đến năm 2020, có 66/102 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (tỉ lệ 64,7%), số giường bệnh/vạn dân đạt 42,97 giường, tăng 5,27 giường so với năm 2016; 95,4% dân số miền núi tham gia bảo hiểm y tế, tăng 1,8% so với năm 2016. Công tác giảm nghèo đạt được những kết quả quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, đến đầu năm 2021 còn 15.357 hộ nghèo, giảm được 12.526 hộ nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo miền núi từ 34,9% năm 2016 còn 18,09% năm 2020.

Cùng với việc nâng cao đời sống vật chất, đời sống văn hóa - tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số cũng được quan tâm thông qua việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc mình. Trong lịch sử hình thành và phát triển, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Quảng Nam đã tạo dựng những giá trị văn hóa vừa phong phú, đa dạng vừa đặc sắc, độc đáo; thể hiện ở nhà làng truyền thống; những bộ trang phục; kho tàng văn học dân gian với những làn điệu dân ca; các phong tục tập quán và nhất là các lễ hội truyền thống như: Lễ mừng lúa mới, Lễ khai năm mới tạ ơn rừng, Lễ cúng đất lập làng, Lễ cúng máng nước, Nghi lễ dựng cây nêu, Nghi lễ cầu mưa…Có 04 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Múa Tơ tung da dá, Nghề dệt thổ cẩm, Nói lý hát lý của dân tộc Cơtu; Trang trí cây Nêu và Bộ Gu của dân tộc Cor. Hiện nay, các giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam vẫn được trao truyền, gắn bó trong đời sống của từng gia đình, dòng họ và cộng đồng dân tộc; tiếp tục phát huy giá trị trong việc gắn kết cộng đồng, khích lệ tình yêu quê hương, đất nước; nhiều giá trị đã và đang được xây dựng thành những sản phẩm du lịch độc đáo, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn.


Làng truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số

Qua tổng kết đánh giá, 15 chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết số 12/20217/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực: có 10/15 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu đề ra; điều đó phản ảnh những bước tiến cơ bản, quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội miền núi giai đoạn vừa qua. Trong đó, một số chỉ tiêu quan trọng như: chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 1,88 lần so với năm 2016, 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Việc đạt mục tiêu của nhóm các chỉ tiêu về hạ tầng gồm: đường giao thông nông thôn được cứng hóa, trạm y tế xã đạt chuẩn, trường học đạt chuẩn; nhóm chỉ tiêu về xã hội, môi trường như: tỷ lệ lao động qua đào tạo, tỷ lệ xã đạt chuẩn văn hóa, tỷ lệ che phủ rừng cho thấy các chính sách đầu tư vào khu vực miền núi thời gian qua đã mang lại hiệu quả trên hầu hết các lĩnh vực, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi góp phần phát triển đồng bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường. Đặc biệt, việc tăng thêm 20 xã nông thôn mới là kết quả rất quan trọng, phản ánh sự nỗ lực rất lớn trong tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Nông thôn mới tại các huyện miền núi, cho thấy người dân đã nhận thức rất rõ về mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới là mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống của chính mình.

…và những điều còn trăn trở

Bên cạnh những kết quả đáng phấn khởi như vừa nêu, nhìn vào bức tranh phát triển miền núi vẫn còn những điều trăn trở.

Điều dễ dàng nhận thấy nhất là kinh tế - xã hội miền núi phát triển vẫn còn chậm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của khu vực. Mặc dù có tăng trưởng, nhưng quy mô vẫn còn rất nhỏ so với toàn tỉnh. Năm 2020, giá trị sản xuất miền núi chiếm 8,87% toàn tỉnh (12.325 tỷ đồng/138.919 tỷ đồng), đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn lực bên ngoài, khả năng tự tích lũy và tái đầu tư phát triển của khu vực là rất khó khăn. Giai đoạn 2016-2020, tỷ trọng thu nội địa khu vực 9 huyện miền núi dao động từ 5,5%-6,9%, riêng năm 2017 có mức thu cao, nhưng cũng chỉ chiếm 9,9% so với toàn tỉnh (đạt 1.427 tỷ đồng/14.395 tỷ đồng).

Bên cạnh đó, đời sống nhân dân vẫn còn khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề do thiên tai gây ra; khoảng cách thu nhập dân cư với đồng bằng vẫn còn rất lớn. Thu nhập bình quân của người dân miền núi đến năm 2020 đạt 20,74 triệu đồng, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2016, tuy nhiên so với toàn tỉnh vẫn còn rất thấp (20,74 triệu đồng/người/45,2 triệu đồng/người). Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao (18,09%, 15.357 hộ nghèo) và tập trung chủ yếu ở nhóm hộ nghèo dân tộc thiểu số; kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, còn xảy ra tình trạng tái nghèo và phát sinh nghèo mới. Một số nơi ở miền núi cao, người dân chưa được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ xã hội cơ bản do thiếu điện, chưa phủ sóng truyền hình, internet. Một số chính sách, dự án giảm nghèo đầu tư còn dàn trãi, mức hỗ trợ thấp, nguồn ngân sách chưa đáp ứng nhu cầu, thiếu quy định cụ thể về điều kiện hỗ trợ cho đối tượng khi tham gia hưởng lợi.

Kết cấu hạ tầng mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ dân sinh; do vậy nhu cầu đầu tư hạ tầng vẫn còn lớn nhất là hạ tầng tái thiết sau thiên tai và hạ tầng vùng đặc biệt khó khăn.

Quy hoạch sản xuất nông nghiệp, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất còn thiếu, chưa đồng bộ, đất đai còn manh mún. Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, hiệu quả, năng suất, sản lượng một số cây trồng, con vật nuôi chưa cao; chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp chưa rõ nét, tiềm năng đất đai, lao động địa phương chưa được khai thác tốt. Sản phẩm hàng hóa vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường tiêu thụ; tính liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm từ miền núi; các vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến còn phân tán, các nguồn lợi chưa được khai thác hợp lí, đầu ra của sản phẩm không ổn định. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm trong quản lý, sản xuất, khả năng tiếp cận thông tin, các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến của các chủ thể sản xuất còn hạn chế.

Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình hội nhập, bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của nó kéo theo nguy cơ mai một các yếu tố văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Đó là sự pha trộn giữa văn hóa truyền thống của các dân tộc với văn hóa ngoại lai khác. Nhiều nhà làng truyền thống tại các thôn bị xuống cấp hoặc không còn, thay vào đó là các nhà sinh hoạt cộng đồng mang kiến trúc hiện đại; trang phục truyền thống không còn hoặc ít được sử dụng trong sinh hoạt thường ngày, mà chỉ xuất hiện vào các dịp lễ, hội; các tệ nạn xã hội diễn ra trong vùng dân tộc thiểu số không còn là chuyện hiếm; nạn mê tín vẫn còn tồn tại trong đồng bào.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan là do địa bàn rộng lớn, dân cư thưa thớt, địa hình hiểm trở làm cho suất đầu tư và nhu cầu đầu tư hạ tầng cao hơn so với mặt bằng chung của tỉnh trong khi khả năng đáp ứng nguồn vốn còn hạn chế. Thiên tai, biến đổi khí hậu thường xuyên tác động gây thiệt hại làm cho khả năng phục hồi, phát triển bị chậm, miền núi đã khó khăn lại càng thêm khó khăn sau mỗi mùa mưa bão. Xuất phát điểm thấp, trình độ dân trí phát triển chưa đồng đều, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó là một số nguyên nhân chủ quan như: chưa có giải pháp khai thác hết tiềm năng và lợi thế của khu vực để tạo sự đột phá trong phát triển. Nhiều chính sách được ban hành thực hiện chung cho toàn tỉnh, chưa dự báo hết những khó khăn khi tổ chức thực hiện nên chưa thực sự hiệu quả đối với khu vực miền núi; chưa có chính sách ưu đãi mạnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào miền núi; tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị sản phẩm triển khai còn chậm, các chính sách hỗ trợ còn chia nhỏ khó đạt hiệu quả. Công tác lồng ghép các nguồn vốn đầu tư trên địa bàn mỗi huyện chưa được chủ động thực hiện. Các chính sách cũng như những hỗ trợ trực tiếp thông qua các chương trình, chính sách đầu tư phát triển vẫn chưa tác động trên diện rộng, chưa mang lại cơ hội phát triển cho cộng đồng dân cư toàn vùng. Đội ngũ cán bộ cơ sở còn yếu, đào tạo nghề còn chậm, thiếu lực lượng lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề nên khó khăn trong giải quyết việc làm. Một bộ phận người dân còn trông chờ vào chính sách của nhà nước, chưa thực sự chủ động vươn lên để phát triển kinh tế, thoát nghèo.

Trong giai đoạn đến, để tạo động lực cho miền núi tiếp tục phát triển về mọi mặt, từng bước rút ngắn khoảng cách với miền xuôi, cần đặt ra các mục tiêu phù hợp và phải có những giải pháp căn cơ trong tổ chức thực hiện.

Trước hết là tiếp tục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc và miền núi: thực hiện chính sách dân tộc và miền núi là nhiệm vụ chiến lược lâu dài; các cấp, các ngành tỉnh, huyện cần xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Thường xuyên củng cố hệ thống chính trị cơ sở, chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác dân tộc - miền núi từ tỉnh đến huyện, xã; đồng thời tranh thủ, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Ưu tiên, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, nâng cao dân trí; đào tạo, dạy nghề gắn với tạo việc làm cho người dân.

Trong tổ chức thực hiện đầu tư, hỗ trợ các chương trình, chính sách, dự án phải đồng bộ, kịp thời, hiệu quả đảm bảo đúng mục tiêu, đối tượng; vận dụng phù hợp với từng địa bàn; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm tránh dàn trãi. Việc xây dựng, ban hành chính sách dân tộc - miền núi phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, tiểu vùng và cân đối đủ nguồn vốn, nguồn lực để thực hiện chính sách tránh gây mất lòng tin trong nhân dân, đảm bảo đạt mục tiêu đã đề ra, tránh trường hợp mục tiêu và nguồn lực không tương xứng ảnh hưởng đến kết quả thực hiện. Có giải pháp phù hợp thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nguồn vốn khác như nguồn của các tổ chức phi chính phủ, vốn ODA và thu hút đầu tư của doanh nghiệp để bù đắp sự thiếu hụt do sự hạn chế của nguồn ngân sách nhà nước trong phát triển vùng miền núi của tỉnh./.

Tác giả: Nguyễn Nhật Hiền

Nguồn tin: Văn phòng HĐND tỉnh


Ý kiến bạn đọc: (0)

Thông tin (*) là bắt buộc:
Họ và tên: (*)  
Địa chỉ:
Email:
Nội dung: (*)  
Mã xác nhận (*)
 

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ TRÀ DƠN - NAM TRÀ MY - TỈNH QUẢNG NAM
Địa chỉ: Xã Trà Dơn - Nam Trà My - Quảng Nam
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)